Nam mô địa tạng vương bồ tát

Share:
IV. Ý NGHĨA CỦA CÁC DANH HIỆU PHẬT, BỒ-TÁT

IV.4. Danh hiệu thứ tư: NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT

 Hoặc NAM MÔ ĐẠI NGUYỆN ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒTÁT

 Trong văn hóa truyền thống của người Á Đông chúng ta,có lẽ danh hiệu của hai vị Bồ-tát Quán Thế Âm và Địa Tạng Bồ-tát là gần gũi,thân quen đối với mọi người. Bởi vì lúc còn sống, mỗi khi gặp chuyện đau khổ,nguy nan, chúng ta liền nghĩ ngay đến Quán Thế Âm Bồ-tát như một niềm an ủi,động viên về tinh thần. Đến lúc mất (chết) thì nương nhờ vào Địa Tạng Bồ-tátmong Ngài xót thương đưa đường dẫn lối thoát khỏi nơi đau khổ của chốn địangục. Đời người còn việc gì lớn lao hơn sống và chết, như trong “Ngũ phước lâm môn”, mọi người hay mongcầu không ngoài mục đích lúc sống mạnh khỏe, bình an, phát tài, làm việc tốt,lúc chết được tốt lành(không bệnh tật). Chính vì thế mà hình tượng danh hiệuBồ-tát Địa Tạng cũng được nhiều người biết đến. Vậy ý nghĩa danh hiệu và hạnhnguyện của Ngài là gì?

 Danh xưng Địa Tạng theo các kinh luận giảithích đã toát lên được bi tâm, nguyện lực kiên cố của Bồ-tát.Bạn đang xem: Nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát

Bạn đang xem: Nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát

 

 Đại:nghĩa là lớn, to, rộng.

Bạn đang đọc: Nam mô địa tạng vương bồ tát

 Nguyện: là lời phát nguyện. Nóicho dễ hiểu là lời thề thốt hứa hẹn của mình về một vấn đề gì đối với ai đó.

 Địa: nghĩa là đất, còn được hiểu là tâm địa của con người.

 Tạng: nghĩa là hàm tàng, chứa đựng, nơi cất giấu.

Bài Tựa kinh Địa Tạng nói: “Địalà dày chắc. Tạng chứa đủ”. Kinh ĐịaTạng Thập Luận nói: “An nhẫn bất động như đại địa, vắng lặng sâukín giống như kho tàng nên gọi là Địa Tạng”. Kinh Phương Quảng Thập Luận nói: “Địa Tạng là kho báu giấu kín trong lòng đất”.Tóm thâu ý nghĩa của danh xưng Địa Tạng lại thì Địa là đất, dụ cho bản thể chântâm khéo làm nơi nương tựa và sanh trưởng vạn pháp. Tạng là hầm báu, kho báu.Địa Tạng nghĩa là trong bản thể chân tâm có chứa vô lượng báu vật Phật pháp, cóthể đem bố thí khắp khiến chúng sanh đồng được vô lượng công đức.

Vương: nghĩa là vua. Do bởi lời phát nguyện cao thâm rộng lớn khóhành “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật. Chúng sanh độ tận phương chứng Bồđề” nên Ngài được “chư Phật ba đời đồng khen chuộng. Mười phương Bồ- tát chung tin tưởng”là vua trong các vị Bồ tát.

 


*

*

 

 Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát - ảnh minh họa

Hạnh nguyện của Địa Tạng Bồ-tát.

Xem thêm: Top 5+ Trung Tâm Sửa Máy Rửa Bát Tại Hà Nội Uy Tín, Sửa Chữa Máy Rửa Bát Tại Hà Nội

 Trên bước đường tu hành, nếu như muốn đạtđến ngôi vị Phật quả, đều phải trải qua giai đoạn hành Bồ-tát đạo, nghĩa là mỗivị Bồ-tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn-thù, Phổ Hiền, Di-lặc, v.v… đều phải phátnhững hạnh nguyện độ sanh. Tùy theo từng vị mà phát những hạnh nguyện khácnhau, có vị phát nhiều hạnh nguyện, có vị phát ít hạnh nguyện, tất cả khôngngoài mục đích là cứu độ chúng sanh, ban vui, cứu khổ mọi loài. Trong đó, thệnguyện của Bồ-tát Địa Tạng thì sâu dày, rộng lớn hơn so với các vị Bồ-tát khác.Điều này đã được xác quyết trong kinh ĐịaTạng, phẩm Kiên Lao Địa Thần, thứmười một. Kiên Lao Địa Thần đã đối trước Phật nói rõ điều này: “BạchThế Tôn, từ trước đến nay con đã từng đảnh lễ chiêm ngưỡng vô lượng vị ĐạiBồ-tát, đều là những bậc trí tuệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn, độ khắp tấtcả loài chúng sanh. Tuy nhiên ngài Địa Tạng Bồ-tát đây so với các vị Bồ-tátkhác chỗ thệ nguyện rộng sâu hơn”. Chúng ta thấy lý tưởng và công hạnhcủa ngài Địa Tạng Bồ-tát được đức Phật mô tả rất nhiều qua các kinh điển Đạithừa như: Phật Thuyết Đại Phương QuảngThập Luân kinh, Ðại Thừa Ðại Tập ÐịaTạng Thập Luân kinh, Chiêm Sát ThiệnÁc Nghiệp Báo kinh, Phật thuyếtLa-ma-già kinh, Hoa Nghiêm kinh, Hoa Nghiêm kinh-Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm,Hoa Nghiêm Thập Ðịa kinh, Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán kinh, Phật Thuyết Bát Ðại Bồ-tát kinh, v.v…

Đặc biệt, trong ĐịaTạng Bồ-tát Bổn Nguyện kinh, Đức Phật kể lại những chuyện tiền thân củaBồ-tát Địa Tạng trong khi hành Bồ-tát đạo, phát thệ nguyện cứu khổ chúng sanh.Qua đó, chúng ta thấy được hạnh nguyện vĩ đại của Ngài. Hạnh nguyện nổi bật đókhông ngoài hai điểm: tinh thần hiếu đạo và tâm nguyện độ tận pháp giới chúng sanh. Điều này thể hiện qua bốn phẩm kinhsau:

1. Phẩm thứ nhất: “…Trong vô lượng kiếp về trước, ngàiĐịa Tạng là một vị trưởng giả. Nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ, đượcsự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị trưởng giảnày đã phát đại nguyện: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vìnhững chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm chochúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật đạo”.

2. Cũng trong Phẩm thứ nhất: “…Vào thời quá khứ vô sốkiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân củaNgài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹcủa cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chếtbị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, đã làm vô lượngđiều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp.Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết làmẹ của cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sanh về cõi trời. Vô cùnghoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện: “Tôinguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai, những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôilập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát”.

3. Phẩm thứ tư: “…Trong hằng hà sa số kiếp về trước,thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, ngài Địa Tạng là một vị vua rấtđức độ, thương dân… nhưng chúng sanh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vuahiền đức này đã phát nguyện: “Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ, làm chođều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thì tôi nguyện chưa chịu thành Phật”.

4. Phẩm thứ tư: “…Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thờiđức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục cónhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người tạo vô số ác nghiệp. Khimạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng chomẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biếtrằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sanh vào cõi người, nhưng vẫn cònchịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu… Vì lòng thươngmẹ và chúng sanh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phátnguyện: “Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thếgiới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôinguyện cứu vớt chúng sanh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địangục, súc sanh và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phậtcả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác”.

Qua bốn lần phát đại nguyện thì trong đó có đến hailần Địa Tạng Bồ-tát vì hiếu đạo cứu độ mẹ mà phát thệ nguyện. Chính vì thế,tông chỉ bộ kinh này được Hòa thượng Tuyên Hóa tóm tắt trong tám chữ: “Hiếuđạo - Ðộ sanh - Bạt khổ - Báo ân”. Do vậy kinh này cũng được gọi làHiếu kinh của Phật giáo. Nội dung bộ kinh này, đức Phật thuyết giảng về cônghạnh tối thắng của Địa Tạng Bồ-tát qua những tiền kiếp của Ngài, đặc biệt làhiếu hạnh và sự độ sanh của Ngài. Trong kinh Đại thừa, đức Phật đã từng nói: “Tấtcả chúng sanh là cha mẹ ta trong quá khứ và là chư Phật ở vị lai”. Vớitrí tuệ rộng lớn như hư không và lòng từ bi bao la ngập tràn như đại dương vôtận, cộng với lời phát nguyện vĩ đại “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật. Chúngsanh độ tận phương chứng Bồ đề.” của Ngài, thì hình ảnh và hạnh nguyệncủa Ngài đã phần nào phát họa minh chứng câu nói trên của đức Phật.

 Ngày nay, hàng Phật tử chúng ta mỗi khiniệm danh hiệu Ngài, nên phải nhớ tưởng đến những công hạnh, thệ nguyện vĩ đạiấy. Chúng ta phải học theo, lấy Ngài làm tấm gương soi sáng cho chúng ta noitheo. Khi gặp chúng sanh nào đang khó khăn, đau khổ, chúng ta phát khởi từ tâmgiúp đỡ trong khả năng của mình có thể, làm được như thế thì khi niệm danh hiệuĐịa Tạng mới tròn đầy viên mãn công đức, sẽ cảm ứng đạo giao với Ngài.

 Như phần trên người viết đã đề cập, danhhiệu Phật biểu thị cho tánh đức. Còn danh hiệu Bồ-tát biểu thị sự tu đức. Tánhđức của chúng ta là Từ bi và Thanh tịnh. Khi mê, tánh đức của tự tánh khônghiển hiện, chẳng hạn bản tánh của chúng ta là đại từ đại bi, hiện tại chúng tađối với người, với vật, một chút tâm từ bi cũng không có; tự tánh của chúng tavốn thanh tịnh, hiện tại một ngày từ sớm đến tối bị nhiễm phải danh văn (danhtiếng), lợi dưỡng (vật thực), ngũ dục (tiền tài, sắc đẹp, địa vị, ăn uống, ngủnghỉ), lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), nghĩa là mắt thấy sắc đẹp,xấu; tai nghe âm thanh khen, chê; mũi nghe mùi thơm, thối; lưỡi nếm mặn, ngọt;thân xúc chạm êm ấm, mềm dịu, khô cứng. Ngày nay, chúng ta đã quên mất tánh đứctừ bi và thanh tịnh của ta vốn sẵn có từ lâu; do đó khi tiếp xúc với ngũ dụcliền bị nó làm mê muội, gây ra không biết bao nhiêu là tội. Để rồi luân hồitrong sanh tử triền miên, mất thân thọ thân như bánh xe quay vòng lên cao rồilại xuống thấp. Vì vậy, niệm danh hiệu Bồ-tát (tu đức) nhằm giúp chúng ta khơidậy, đánh thức tánh đức của chính mình. Thực hành theo hạnh nguyện của cácNgài.

Bài viết liên quan